Gốc > TIN TỨC HOẠT ĐỘNG >
Trương Trường Thi @ 20:19 07/03/2011
Số lượt xem: 682
Thực hiện quyền bình đẳng với phụ nữ VN theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Được Đảng và Nhà nước quan tâm, công tác vận động phụ nữ, phong trào phụ nữ ngày càng phát triển; sự đóng góp của phụ nữ cho sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước ngày càng lớn,...
![]() |
| Bác Hồ với các đại biểu phụ nữ các dân tộc Việt Bắc (năm 1959). ảnh TL |
1. Vai trò của phụ nữ, quyền bình đẳng của phụ nữ được khẳng định
Bôn ba trong hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã không chỉ đồng cảm mà còn đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với phụ nữ xứ thuộc địa: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược, ngoài phố, trong nhà, giữa chợ, hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan lại cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga”. Không chỉ có ách áp bức thực dân, mà lễ giáo phong kiến cũng coi người phụ nữ là những phận người hèn mọn, hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì.
Tuy nhiên, rất biện chứng, Hồ Chí Minh có niềm tin vào phụ nữ, coi họ là một nửa xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng độc lập và giải phóng chính bản thân mình. Trên tinh thần đó, không chỉ khẳng định: “Nam nữ bình quyền”, “Đàn bà cũng được tự do, bất phân nam nữ đều cho bình quyền”, “Về chính trị: Nam nữ bình quyền” đã trở thành một nội dung quan trọng của Chánh cương văn tắt của Đảng (1930) và Mười chính sách của Việt Minh, Chương trình Việt Minh (1941), trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tư tưởng của Người về giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ, cổ vũ người phụ nữ tham gia và góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,t iếp tục được khẳng định trong các vản bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Tất cả những người công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử” và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9, Hiến pháp năm 1946); “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” (Điều 24, Hiến pháp năm 1959), Điều 3; 12; 13; 18 nói về quyền bình đẳng vợ chồng, và cha mẹ không được đối xử tàn tệ với con dâu (Luật Hôn nhân và gia đình), v.v..
2. Hồ Chí Minh với việc giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ
Trong tiến trình cách mạng, được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam không chỉ góp sức mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà còn tự giải phóng bản thân mình. Trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, phụ nữ đã không chỉ được giải phóng, đóng góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng như Người từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”, mà còn từng bước chiến thắng những tập tục, những quan niệm cổ hủ và tự chiến thắng chính bản thân mình, để thực sự hướng tới quyền bình đẳng thực sự, vì đó luôn là “một cuộc cách mạng to và khó”.
Tuy nhiên cũng theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi rõ trong các văn bản pháp lý quan trọng, song giải phóng người phụ nữ triệt để, thực hiện sự bình quyền, thì không có nghĩa là chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình. Điều căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội, đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông, cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện học tập nâng cao trình độ mọi mặt và tham gia công tác xã hội. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới.
Giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ đã tồn tại dai dẳng trong quan niệm của nhân dân ta: “Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. Cuộc cách mạng này to và khó, “vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu...vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”. Trên tinh thần đó, muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ từ một luật lệ trở thành hiện thực trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người, thì cần phải có sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân nói chung và của tất cả phụ nữ nói riêng.
Điều kiện để thực hiện cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Vì vậy, trong thời kỳ miền Bắc xây dựng CNXH, và cùng miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Người đã không chỉ quan tâm đến phụ nữ, mà Người còn luôn nhắc nhở các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các Bộ, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị chú ý đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện đưa phụ nữ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo, để thực hiện quyền bình đẳng thực sự.
Theo lời Người: “Thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm gì đựơc tham gia chính quyền. Nhưng đến nay, số phụ nữ hiện công tác ở các cơ quan Trung ương đã có trên 5.000 người, ở huyện, xã có hơn 16.000 người và các tỉnh có hơn 330 người, đặc biệt trong quốc hội khoá II này có 53 đại biểu phụ nữ” (1/8/1960), nên để phụ nữ Việt Nam được giải phóng, được hưởng quyền bình đẳng thật sự thì không chỉ làm cách mạng giải phóng họ, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của họ, mà còn phải bồi dưỡng, giúp đỡ họ, đưa họ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo Đảng và chính quyền.
Với ý nghĩa đó, thực chất quá trình thực hiện quyền bình đẳng không chỉ dừng lại ở việc vận động phụ nữ, ở công tác cán bộ nữ, mà còn là phải tạo môi trường pháp lý và điều kiện hiện thực thuận lợi cho cả hai giới cùng tham gia vào các hoạt động xã hội. Song thực hiện bình đẳng giới, cũng không có nghĩa là “cào bằng” trong mọi việc, mà phải là, ngoài những cơ chế chính sách chung đối với người lao động, các cơ quan chức năng cần chú ý “quán triệt quan điểm giới” khi xây dựng chính sách, pháp luật đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em khỏi những lao động độc hại và phi đạo đức, đồng thời đảm bảo phân phối công bằng cho cả hai giới, khi cùng làm một công việc và cống hiến như nhau.
Luôn quan tâm đến phụ nữ, trăn trở về vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ, trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn lại trong bản Di chúc lịch sử: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Đó không chỉ là tấm lòng, đó còn là trăn trở của Người về vấn đề thực hiện quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ với nam giới.
2. Đảng và Nhà nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng thật sự đối với phụ nữ
Thực hiện tư tưởng của Người và những lời căn dặn trong bản Di chúc, trong những năm (1969-1985), Đảng đã luôn quan tâm và đề ra nhiệm vụ về công tác vận động phụ nữ. Đó là “phải đấu tranh xoá bỏ những quan điểm phong kiến và tư sản trong việc đánh giá lực lượng và khả năng của phụ nữ, trong việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động nữ, cán bộ nữ, trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về đời sống của phụ nữ và trẻ em” và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phải ra sức giáo dục, động viên phụ nữ phát huy quyền làm chủ tập thể, cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc; tiếp tục đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ và xây dựng người phụ nữ mới XHCN….
Tuy nhiên, những chủ trương đúng đắn của Đảng nói trên đã không được thực hiện một cách đầy đủ. Nhiều cấp uỷ Đảng, và lãnh đạo các ngành còn buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện, đối xử thiếu công bằng với phụ nữ trong việc sử dụng đào tạo, đề bạt, kỷ luật. Mặt khác, một số phụ nữ thiếu ý thức vươn lên, bị cản trở bởi những định kiến xã hội và gánh nặng gia đình. Chưa thể vượt lên những cản trở, chưa thể tự mình khẳng định, việc tham gia công tác quản lý của phụ nữ bị hạn chế [ tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội (khoá 1971- 1976) là 32%, giảm xuống còn 27% (khoá 1976 – 1981) và 22% (khoá 1981- 1987).
Trước thực tế trên, Ban Bí thư ra Chỉ thị 44/CT-TW ngày 7/6/1984 về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ. Nhằm cụ thể hoá Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 24-12-1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Nghị quyết số 176a - HĐBT về việc phát huy vai trò và năng lực của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Nghị quyết khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng đất nước và đề ra các chủ trương, biện pháp khá toàn diện về chủ trương, chính sách, biện pháp của Nhà nước đối với phụ nữ. Kết quả là, sau bốn năm (1984-1988), thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư và Nghị quyết của HĐCP, trong số 25/40 tỉnh, 24/90 bộ, ngành Trung ương (những đơn vị có báo cáo) đã có hàng ngàn cán bộ nữ được bố trí, sắp xếp vào cương vị lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở. …
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng xác định: “Cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp. Các cơ quan Nhà nước với sự phối hợp của các đoàn thể cần có biện pháp thiết thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, thực hiện đúng Luật Hôn nhân gia đình. Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc”.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, nhằm tạo điều kiện cho các cấp Hội phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước, Quyết định 163/HĐBT (19/10/1988) đã quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội liên Hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước, thể chế hoá vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đại diện quyền làm chủ của phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ hợp tác và phối hợp giữa các cấp chính quyền và các cấp Hội phụ nữ.
Tiếp tục thực hiện sự giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng thực sự, trong những năm 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cải cách nền hành chính nhà nước, công tác phụ nữ càng được Đảng, Nhà nước quan tâm chu đáo (quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, được bổ sung: “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ…Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (chương V, Hiến pháp 1992).
Tiếp đó, Nghị quyết số 04/NQ-TW (12/7/1993), Chỉ thị số 28 CT-TW (19/9/1993), Chỉ thị 37/CT (16/5/1994), Chỉ thị 54/CT-TW (22/5/2000), Chỉ thị 07/CT-TW (Ngày 25/1/2002), v.v..về công tác phụ nữ và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) chỉ rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”. Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng X, ngày 27/4/2007 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2003/NĐ-CP (7/3/2003) và Luật bình đẳng giới được Quốc hội thông qua tháng 11/2006 đã tạo điều kiện cho Hội phụ nữ cùng cấp tham gia các hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ.
Cùng với sự phát triển của sự nghiệp cách mạng và những thành tựu về mọi mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, quyền bình đẳng đối với phụ nữ đã đạt được nhiều tiến bộ rõ nét, thể hiện ở các mặt sau đây:
- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền đã có sự chuyển biến nhất định trong nhận thức, trong tư tưởng và thực hiện quyền bình đẳng đối với phụ nữ. Người phụ nữ đã được đánh giá cao, và vai trò của cán bộ nữ nói riêng cũng đã được ghi nhậ. Trong những điều kiện cụ thể, công tác cán bộ nữ đã là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương, của ngành, có sự chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
- Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quốc gia, tạo điều kiện để phụ nữ được chăm lo về sức khoẻ và quyền lợi, được giải quyết việc làm, từng bước giảm tỷ lệ đói nghèo cho phụ nữ. Ngoài việc thụ hưởng các chương trình chung của Quốc gia, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã đẩy mạnh chương trình tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo cho phụ nữ cả nước. Đã có trên 1.900 tỷ đồng dành cho phụ nữ và trên 2 triệu lượt phụ nữ (trong đó trên 60% là phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc, tôn giáo, đơn thân, tàn tật, phụ nữ trong diện chính sách, phụ nữ chủ doanh nghiệp mới thành lập) được vay để sản xuất, kinh doanh, phát triển trang trại, mở mang nghề nghiệp, phát triển nghề truyền thống…
- Các cấp, các ngành đã quan tâm giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, nâng cao trình độ về mọi mặt cho phụ nữ. Hội LHPN các cấp đã chủ động phối hợp với các ngành chức năng xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, tổ chức các hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực cho phụ nữ từ Trung ương đến cơ sở, tạo điều kiện cho phụ nữ nhận thức sâu sắc hơn quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với gia đình, xã hội và đối với chính bản thân mình.
- Do sự chuyển biến trong nhận thức và đánh giá đúng vai trò, khả năng của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới, công tác cán bộ nữ cũng đã được các cấp uỷ Đảng, các ngành, các cấp, thực hiện theo một lộ trình phù hợp. Vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, tỷ lệ nữ tham gia, trúng trong các cấp uỷ Đảng, Quốc hội, HĐND, các ngành, các cấp ngày càng tăng.
Có thể nói rằng, được Đảng và Nhà nước quan tâm, cho nên sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ đã được thực hiện, dù trong thực tế vẫn còn tồn tại những bất cập. Với những chủ trương, chính sách phù hợp, công tác vận động phụ nữ, phong trào phụ nữ ngày càng phát triển; sự đóng góp của phụ nữ cho sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước ngày càng lớn; quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, v.v.. giữa nam và nữ ngày càng thể hiện rõ nét trong mọi mặt của đời sống xã hội. Đó là sự tham gia của phụ nữ trong công tác quản lý, lãnh đạo ở tất cả các cấp uỷ Đảng, các cơ quan Nhà nước, các ngành, các doanh nghiệp, các hợp tác xã, v.v., và đó cũng chính là sự khẳng định, sự cố gắng vươn lên của bản thân mỗi người phụ nữ Việt Nam trong vị thế quốc gia và trên trường quốc tế./.
Ths. Văn Thị Thanh Hương (TCTG)
Trương Trường Thi @ 20:19 07/03/2011
Số lượt xem: 682
Số lượt thích:
0 người
 
- Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thị Nghĩa: Chúng tôi luôn tự hào về đội ngũ nữ nhà giáo và cán bộ quản lý GD nước ta (07/03/11)
- Phát huy tinh thần ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 bất diệt (07/03/11)
- MỘT THÀY GIÁO TẬN TỤY VỚI NGHỀ VÀ ĐAM MÊ CNTT (02/03/11)
- Độc đáo bộ giáo trình điện tử môn Địa lý cấp 2 (01/03/11)
- Triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia GD-ĐT năm 2011 (28/02/11)

Các ý kiến mới nhất